Quy trình xử lý nước thải sinh hoạt

    Ngày nay cùng với sự phát triển của nền công nghiệp toàn cầu kéo theo hệ lụy gây biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, nhu cầu cung cấp nước uống cho con người ngày càng hạn hẹp và đang gây áp lực lớn đối với các nhà quản lý. Nước sinh hoạt hàng ngày của con người rất cần thiết, việc xả thải chưa qua hệ thống xử lý nước thải gây ra ô nhiễm môi trường và có tác động xấu đến sức khỏe con người.

so-do-be-nuoc-thai-sinh-hoat


    Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, việc thải ra môi trường nước thải sinh hoạt có nhiều chất hữu cơ gây ô nhiễm, chứa nhiều vi khuẩn, cũng như lượng amonni cao vì vậy cần có một hệ thống xử lý triệt để và đem lại hiệu quả.

    Hiện nay có quy trình xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ sinh học được ứng dụng để xử lý các chất hữu cơ hoà tan có trong nước thải cũng như một số chất ô nhiễm vô cơ khác như H2S, sunfit, ammonia, nitơ… dựa trên cơ sở hoạt động của vi sinh vật để phân huỷ chất hữu cơ gây ô nhiễm. Vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số khoáng chất làm thức ăn để sinh trưởng và phát triển.

    Nước thải sinh hoạt phát sinh từ quá trình sinh hoạt sẽ được thu gom theo hệ thống mương dẫn qua hệ thống song chắn rác, giỏ chắn rác. Việc bố trí song chắn  rác nhằm giữ lại những thành phần rác thô, cặn lơ lửng có kích thước tương đối lớn nhằm tránh những ảnh hưởng cho các công trình phía sau. Sau khi tách rác, nước thải chảy về bể gom. 

be-xu-ly-nuoc-thai-sinh-hoat


    Bể gom có nhiệm vụ tập trung nước thải đồng thời dầu mỡ cũng được giữ lại tại đây, định kỳ vớt mỡ đem đi xử lý . Từ bể gom nước thải sẽ được bơm qua bể điều hòa. Tại bể điều hòa, máy thổi khí sẽ cấp khí và hòa trộn đồng đều không khí trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu, đồng thời có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Nước thải sau khi điều hòa sẽ được bơm lên bể sinh học hiếu khí.

    Trong bể sinh học hiếu khí, các vi sinh vật hiếu khí sử dụng oxy hòa tan phân hủy và chuyển hóa chất hữu cơ trong nước thải thành sinh khối, CO2 và nước. Các vi sinh vật liên kết với nhau, dưới dạng các bông bùn hoạt tính. Nguồn oxy hòa tan được cung cấp từ máy thổi khí thông qua hệ thống ống phân phối khí. Khi nguồn oxy hòa tan được đảm bảo, quá trình oxy hóa sinh học các chất ô nhiễm và quá trình nitrat hoá diễn ra triệt để. 

    Kết quả nước được làm sạch và sinh khối vi sinh vật tăng lên. Sau khi xử lý nước thải bằng sinh học hiếu khí, nước thải sẽ chảy qua bể lắng nhằm tách sinh khối vi sinh vật (bùn sinh học) có trong dòng nước thải. Nước thải sẽ được phân phối vào ống lắng trung tâm, bùn sẽ lắng xuống đáy bể, nước trong sẽ chảy tràn bề mặt và theo hệ thống máng thu nước chảy sang bể  khử trùng. Tại bể khử trùng, hóa chất khử trùng sẽ được bơm định lượng đưa vào bể nhằm tiêu diệt vi sinh có hại có trong nước thải, đồng thời oxy hóa các chất hữu cơ còn sót lại trong nước.

    Cuối cùng nước thải sẽ được bơm vào thiết bị lọc áp lực gồm các lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh nhằm loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học, tạo độ trong cần thiết cho nước thải.

    Nước sau xử lý đảm bảo đạt mức A  sẽ được xả vào môi trường tiếp nhận. Bùn rắn lắng từ bể lắng sinh học sẽ được dẫn về bể phân hủy bùn. Quá trình ổn định bùn kỵ khí diễn ra trong thời gian dài sẽ làm cho bùn ổn định, mất mùi hôi và dễ lắng. Từ bể phân hủy bùn, bùn được tách nước và định kỳ hút đem xử lý. Nước sau khi tách bùn sẽ tuần hoàn trở lại bể gom để tiếp tục xử lý.
Comments