TIN TỨC MÔI TRƯỜNG

Quảng Ngãi: Đầu tư 2.800 tỷ đồng xử lý nước thải sinh hoạt tập trung

đăng 19:53, 6 thg 1, 2020 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 19:56, 6 thg 1, 2020 ]

    Từ nay đến năm 2025, tỉnh Quảng Ngãi sẽ đầu tư khoảng 2.800 tỷ đồng xây dựng hệ thống thu gom và 14 trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại 8 khu vực đô thị. Theo đó, tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý tập trung đạt hơn 70% tổng lượng nước thải sinh hoạt đô thị toàn tỉnh.

he-thong-xu-ly-nuoc-thai-sinh-hoat


    Trước mắt, UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung của thành phố Quảng Ngãi với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng.

    Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông làm chủ đầu tư, thực hiện giai đoạn 2020- 2022. Dự án sử dụng hệ thống thu gom nước hiện hữu, xây dựng thêm một số trục dẫn thu gom nước thải từ cầu Trường Xuân đến đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc và các hạng mục đầu mối khác gồm: trạm xử lý nước thải, trạm bơm, cụm điều tiết./.

Tỉnh Khánh Hòa: Yêu cầu doanh nghiệp hoàn thành xử lý nước thải trước ngày 31/12

đăng 19:51, 29 thg 12, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 19:52, 29 thg 12, 2019 ]

    Sở TN-MT Khánh Hòa yêu cầu Công ty TNHH Hải sản Thịnh Phát NT, xã Vĩnh Lương (TP Nha Trang) phải hoàn thành hệ thống xử lý nước thải trước ngày 31/12. Thời gian qua, hoạt động của công ty gây ô nhiễm môi trường khiến người dân trong thôn Lương Hòa, xã Vĩnh Lương vô cùng bức xúc.

    Ông Bùi Minh Sơn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở TN-MT Khánh Hòa), cho biết trước phản ảnh của chính quyền xã Vĩnh Lương về việc Công ty TNHH Hải sản Thịnh Phát NT (gọt tắt Cty Thịnh Phát NT) xả thải không đạt quy chuẩn, gây ô nhiễm môi trường.

nước-thải-xả-ra-suối

    Mới đây, Sở TN-MT đã phối hợp Cảnh sát môi trường (Công an tỉnh), các ngành liên quan và chính quyền xã Vĩnh Lương kiểm tra thực tế công tác bảo vệ môi trường tại Công ty Thịnh Phát NT.

    Sau khi căn cứ kết quả kiểm tra, Sở TN-MT yêu cầu Cty Thịnh Phát NT phải hoàn thành cải tạo hệ thống xử lý nước thải và thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm cho các cơ quan liên quan trước ngày 31/12.

    Tuy nhiên trong thời gian cải tạo hệ thống, Sở TN-MT nghiêm cấm Cty Thịnh Phát NT xả nước thải chưa xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Nhưng tạm thời cho phép Cty chuyển giao nước thải cho đơn vị chức năng xử lý theo quy định đảm bảo môi trường; việc chuyển giao phải có nhật ký ghi số lượng, nơi chuyển đến.

    Sở TN-MT sẽ phối hợp với các đơn vị chức năng của tỉnh, TP Nha Trang và xã Vĩnh Lương giám sát việc thực hiện của Cty. Trước đó, người dân thôn Lương Hòa liên tục phản ánh tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường do Cty Thịnh Phát NT gây ra từ hoạt động chế biến thủy sản. Sau đó, cơ quan chức năng các cấp đã xử phạt Cty Thịnh Phát NT nhiều lần nhưng Cty này vẫn không khắc phục.

    Ông Trần Văn Chi, Trưởng thôn Lương Hòa, xã Vĩnh Lương, cho biết, từ khi đoàn Sở TN-MT ra kiểm tra, lập biên bản đối với Cty Thịnh Phát NT thì không còn tình trạng xả thải nữa. Chứ trước đó Cty này xả liên tục ra suối đèo Rù Rì chảy qua trong thôn, gây mùi hôi thối, bà con chịu không nổi.

    Nguồn báo điện tử: m.nongnghiep.vn/khanh-hoa-yeu-cau-doanh-nghiep-hoan-thanh-xu-ly-nuoc-thai-truoc-ngay-31-12-post255539.html

Hải Phòng: Hàng trăm điểm xả thải không phép xuống nguồn nước sạch

đăng 19:14, 20 thg 12, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 19:15, 20 thg 12, 2019 ]

    Hơn 360 điểm xả thải trực tiếp hoặc gián tiếp vào sông Rế song chỉ có 33 điểm được cấp phép. Sông Rế dài gần 30 km cung cấp khoảng 70% nguồn nước thô phục vụ sản xuất nước sạch của thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên nhiều nguồn thải ô nhiễm đang hàng ngày xả thẳng xuống dòng sông này. 

    Theo ông Trần Quang Hoạt - Chủ tịch HĐQT Công ty thủy lợi An Kim Hải, hiện trên địa bàn có 423 điểm xả trực tiếp hoặc gián tiếp vào sông Rế, gồm 365 điểm xả của các doanh nghiệp song chỉ 33 doanh nghiệp được cấp phép. Ngoài ra còn 44 điểm xả của các khu dân cư, trường học, 14 hộ cá nhân kinh doanh.

Song-Re-Hai-Phong

    Thời gian qua, Công ty thủy lợi An Kim Hải đã nạo vét, xây bờ kè được gần 9 km sông Rế, đoạn từ cầu Hà Liên đến cống Cái Tắt để góp phần bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, ông Hoạt thừa nhận hiệu quả việc kè sông "chưa được như mong đợi", vì dọc hai bên sông chưa có hệ thống đường ống thu gom nước thải đưa về khu xử lý tập trung. "Tất cả đều theo đường ống thoát xả xuống sông. Đó là chưa kể ý thức của một bộ phận người dân không tốt, họ vẫn đổ rác, vứt xác động vật chết xuống sông Rế", ông nói.

Kenh-chay-qua-quan-Hong-Bang

    Ông Nguyễn Văn Phương - Giám đốc Sở Tài nguyên & Môi trường Hải Phòng cho hay, hồi giữa tháng 10, Công ty cổ phần cấp nước thành phố đã khảo sát và ghi nhận mẫu phân tích nước sông Rế có các chỉ tiêu amoni, nitrit... vượt rất nhiều lần tiêu chuẩn cho phép, tăng cao từ phía cống An Trì về trạm bơm Quán Vĩnh.

    Trước tình hình trên, Công ty thủy lợi An Kim Hải đã dự kiến trong năm 2020 sẽ lắp đặt camera giám sát tại một số "điểm nóng" về xả thải dọc sông Rế, nhằm kiểm soát các trường hợp tiềm ẩn nguy cơ gây sự cố về môi trường, đồng thời phát hiện và xử lý các trường hợp lén lút đổ chất thải xuống sông.

Xa-thai-xuong-song-To-Lich

    Về lâu dài, lãnh đạo Sở Tài nguyên & Môi trường Hải Phòng cho rằng, thành phố cần sớm đầu tư các trạm xử lý nước thải tập trung, xây dựng hệ thống thu gom nước thải từ các khu dân cư ven sông. Hải Phòng cũng cần tiếp tục kè sông, thực hiện các biện pháp mạnh để xóa bỏ tình trạng nước thải từ các khu dân cư, cơ sở sản xuất, kinh doanh xả trực tiếp vào nguồn nước ngọt...

Nhà máy xử lý nước thải sẽ cứu cánh cho các dòng sông chết

đăng 19:08, 15 thg 12, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 19:09, 15 thg 12, 2019 ]

    Liên quan đến việc những dòng sông lịch sử của TP Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Nhuệ) đang càng ngày càng ô nhiễm trầm trọng bởi nước thải, và TP đang loay hoay tìm giải pháp. PGS.TSKH Trần Văn Nhị - nguyên nghiên cứu viên cao cấp, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam bày tỏ: "Quá xót xa. Những dòng sông này vốn trong xanh, tắm rửa được, nhưng cùng với tốc độ phát triển của thành phố, các nguồn nước thải của người dân đổ trực tiếp ra sông mà không qua xử lý thì việc ô nhiễm là điều không thể tránh khỏi".

    Theo ông Nhị, việc bơm nước sông Hồng vào để cải thiện nước sông Tô Lịch cũng có những tác dụng nhất định, tuy nhiên không giải quyết được tổng lượng chất thải. "Tổng khối lượng chất ô nhiễm không thay đổi mà chỉ là được pha loãng và đẩy đi chỗ khác. Hà Nội giải quyết vấn đề không nên chỉ cho Hà Nội, mà còn phải nghĩ đến những vùng hạ lưu" - PGS.TSKH Trần Văn Nhị chia sẻ.

dong-song-To-Lich

    Người dân vùng hạ lưu thuộc các huyện phía Nam Hà Nội (Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hòa...), Hà Nam vẫn chủ yếu sử dụng hệ thống nước ngầm, giếng đào, giếng khoan. Việc dòng sông bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến hệ thống nước ngầm, gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Để cải thiện tình hình ô nhiễm các dòng sông trong TP Hà Nội hiện nay, việc cần làm trước mắt là phải xây dựng đường cống thu gom nước thải tập trung, quản lý chặt chẽ. Khi tổng lượng nước thải và tổng khối lượng chất ô nhiễm đủ lớn thì phải có nhà máy xử lý.

    "Nhà máy xử lý nước thải phụ thuộc vào địa bàn với công nghệ thích hợp. Không yêu cầu giải quyết triệt để nhưng phải giảm thiểu ở mức chấp nhận được, trước khi đổ vào các sông lộ thiên. Các nguồn thải phải được xử lý nước thải tương đối đồng đều, tránh tình trạng cống này xử lý nhưng cống khác để nguyên không xử lý" - ông Nhị nói.

    Bên cạnh đó, ông cho rằng trước khi đưa nguồn nước này ra sông Hồng hoặc sông Đáy thì phải có một hệ thống xử lý tổng thể cuối cùng, đòi hỏi mặt bằng rộng hơn.

    Ở đây có thể áp dụng các biện pháp giảm ô nhiễm, chẳng hạn như sử dụng cánh đồng sinh học, trong đó có trồng các loại thực vật thủy sinh cải thiện môi trường nước... Việc xử lý nước thải khu dân cư tận gốc chính là giải pháp bền vững nhất để khắc phục tình trạng ô nhiễm tại các sông hồ ở Hà Nội hiện nay. Nếu không, các giải pháp công nghệ khác đều không mang lại nhiều ý nghĩa.

    Nguồn: giaoducthoidai.vn/khoa-hoc/nha-may-xu-ly-nuoc-thai-se-cuu-canh-cho-cac-dong-song-chet-4051856-b.html

Sông Cầu: Xử lý "điểm nóng" ô nhiễm để bảo vệ dòng sông

đăng 19:05, 8 thg 12, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 19:06, 8 thg 12, 2019 ]

    Điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước sông kéo dài và không có sự cải thiện qua các năm trên lưu vực sông Cầu là sông Ngũ Huyện Khê, mức độ ô nhiễm gia tăng vào mùa khô. Tại phiên họp lần thứ 15 của Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu vừa diễn ra ở Thái Nguyên, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân khẳng định trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, lượng nước thải ngày càng gia tăng thì các tỉnh thuộc lưu vực sông Cầu cần có giải pháp căn cơ, đồng bộ nhằm đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới.

thu-truong-Vo-Tuan-Nhan

    Theo ông Nhân, năm 2020 Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ thực hiện sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, xây dựng quy hoạch quan trắc môi trường, quy hoạch đa dạng sinh học, quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia. Đây chính là cơ sở để giúp địa phương quản lý tốt hơn môi trường tại địa bàn.

    Điểm nóng ô nhiễm là sông Ngũ Huyện Khê

    Theo báo cáo tại phiên họp, trên dòng chính sông Cầu, khu vực thượng nguồn sông Cầu, đoạn sông chảy từ tỉnh Bắc Kạn đến TP. Thái Nguyên có chất lượng nước ở mức tốt và ít có sự biến động trong giai đoạn 2016 đến tháng 7/2019. Nước sông sử dụng được tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và các mục đích tương đương khác.

    Tuy nhiên, đoạn sông Cầu chảy vào TP. Thái Nguyên chất lượng nước bị suy giảm so với khu vực thượng nguồn, môi trường nước sông ở mức trung bình. Đặc biệt đoạn sông Cầu từ Hoàng Văn Thụ đến Cầu Gia Bảy có thời điểm môi trường nước sông ở mức kém, bởi chịu tác động tổng hợp của nhiều nguồn thải (nước thải sinh hoạt TP. Thái Nguyên, nước thải sản xuất từ Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ và nhà máy gang thép Thái Nguyên….). 

    Đoạn sông Cầu chảy qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang có chất lượng nước chỉ ở mức trung bình, nước sông chỉ đáp ứng được cho mục đích giao thông thủy và các mục đích tương đương khác do chịu tác động đáng kể bởi các hoạt động công nghiệp, làng nghề, dân sinh. Các phụ lưu (sông Công; sông Nghinh Tường; suối Phượng Hoàng), môi trường nước sông duy trì ở mức tốt và ít có sự biến động qua các năm.

    Điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước sông kéo dài và không có sự cải thiện qua các năm trên lưu vực sông Cầu là sông Ngũ Huyện Khê, mức độ ô nhiễm gia tăng vào mùa khô. Đây là một nhánh sông cấp 1 nằm ở khu vực hạ lưu lưu vực sông, bị ô nhiễm khá nặng do tiếp nhận nước thải của làng nghề giấy Phong Khê. Vào mùa mưa, chất lượng nước có cải thiện hơn, nhưng nước sông cũng chỉ có thể sử dụng cho mục đích giao thông thủy.

Song-huyen-Ngu-Khe

    Giai đoạn từ năm 2018 đến 7/2019, trên lưu vực sông Cầu xuất hiện điểm nóng ô nhiễm mới là khu vực suối Bóng Tối, chất lượng môi trường nước sông bị ô nhiễm do ảnh hưởng của hoạt động dân sinh (khu vực tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt của TP. Thái Nguyên).

    Theo đánh giá, trong năm 2019, việc triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu năm 2020 đã đạt được một số kết quả đáng kể. Các tỉnh đã triển khai hàng chục dự án, công trình hạ tầng, mô hình quản lý, bảo vệ môi trường trong lưu vực Cầu.

    Các chương trình, dự án xử lý nước thải, cải thiện môi trường sử dụng vốn ODA đang thực hiện tại các tỉnh trên lưu vực sông Cầu giai đoạn 1993-2019 cho 7 dự án tại các tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Chương trình mục tiêu xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc đối tượng công ích giai đoạn 2016 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

    Đến nay đã có 3/6 tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Cầu đã lập và phê duyệt quy hoạch chuyên ngành thoát nước trên địa bàn gồm Hải Dương, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc. Đối với Quy hoạch quản lý chất thải rắn lưu vực sông Cầu đến năm 2020, đã có 5/6 địa phương trong lưu vực phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn, riêng tỉnh Bắc Ninh chưa phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn.

    Tập trung thanh tra các cơ sở xả thải

    Công tác thanh tra, kiểm tra được tiến hành cả ở cấp trung ương và địa phương. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành triển khai công tác thanh, kiểm tra tổng số 34 cơ sở trên 3 tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên và Vĩnh Phúc. Qua đó xử phạt với tổng số tiền gần 4,3 tỷ đồng đối với 18 cơ sở vi phạm.

    Bộ Công an đã tiến hành trực tiếp xử lý 115 vụ việc vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7,5 tỷ đồng; các địa phương tiến hành thanh tra, kiểm tra 1.161 cơ sở và xử lý nghiêm 275 cơ sở vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với số tiền hơn 24,4 tỷ đồng. Ông Vương Đức Sáng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu - đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các bộ ngành, địa phương liên quan thúc đẩy các chương trình, dự án liên vùng, liên tỉnh nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường lưu vực sông Cầu.

    Tập trung thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ có hoạt động xả nước thải có lưu lượng nước thải từ 100 m3/ngày đêm trở lên trực tiếp vào lưu vực sông Cầu.

    Ông Sáng cũng đề nghị đánh giá thực hiện và đề xuất kiến nghị thực hiện trong giai đoạn tiếp theo các Quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn và Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu dân cư, khu công nghiệp lưu vực sông Cầu đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hoàn thiện và trình phê duyệt Chương trình Quốc gia về đầu tư xử lý nước thải.

    Nguồn: dantri.com.vn

Sẵn sàng đầu tư 100% chi phí, làm sạch toàn bộ sông Tô Lịch từ Nhật Bản

đăng 00:59, 4 thg 12, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 00:59, 4 thg 12, 2019 ]

    Chiều 3/12, Tổ chức Xúc tiến thương mại - Môi trường Nhật Bản (JEBO - đơn vị trực tiếp thực hiện thí điểm sông Tô Lịch) thông báo đã tìm ra giải pháp xử lý cho cả dòng sông Tô Lịch. Tổ chức Xúc tiến thương mại - Môi trường Nhật Bản cho biết đã tìm ra giải pháp xử lý ô nhiễm cho cả dòng sông Tô Lịch, sẵn sàng đầu tư 100% chi phí.

    Đây là giải pháp xử lý nước thải tại chỗ, từ các cống xả bằng công nghệ Nano-Bioreactor Nhật Bản theo 2 nhóm:

    Nhóm 1: Hệ thống Nano-Bioreactor xử lý nước thải tại chỗ trong ngày (24h), rồi mới xả vào sông nước đạt QCVN, là nguồn cấp nước bổ cập tại chỗ cho sông Tô Lịch.

    Nhóm 2: Hệ thống Nano-Bioreactor xử lý mùi, chất ô nhiễm và phân hủy bùn hữu cơ ở trong lòng sông, tạo dòng chảy cho sông Tô Lịch.

khuc-song-To-Lich

    Theo đánh giá của JEBO, giải pháp này sẽ đảm bảo nước thải từ các cống sẽ được xử lý tại chỗ tại bể ngầm dưới đất bằng hệ thống Nano-Bioreactor nhóm thứ 1 tạo ra nước đạt QCVN -2- rồi mới chảy vào sông Tô Lịch. Trong trường hợp phát sinh nước thải tràn vào lòng sông thì vẫn có hệ thống Nano-Bioreactor nhóm thứ 2 đặt ở giữa sông để xử lý mùi, chất ô nhiễm và phân hủy bùn hữu cơ ở trong lòng sông, tạo dòng chảy cho sông Tô Lịch.

    Hệ thống vận hành hoàn toàn tự động, có điều khiển đáp ứng cả khi có mưa bão lớn. Đơn vị sẵn sàng đầu tư 100% chi phí xây dựng hệ thống xử lý ban đầu cho toàn bộ sông Tô Lịch, hồ Tây. Nếu thành công, đơn vị sẽ cho Hà Nội thuê, rồi chuyển giao cho TP quản lý, vận hành.

    JEBO gợi ý thêm, về lâu dài, khi Việt Nam có điều kiện về kinh tế vẫn nên hoàn thiện hệ thống thoát nước đô thị, xây dựng các hệ thống cống bao, thu gom tách nước thải từ nguồn đưa về các nhà máy xử lý nước thải tập trungĐồng thời Việt Nam cần ra quy định về bắt buộc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải từ các hộ gia đình để xử lý từ nguồn như tại Nhật Bản.

he-thong-xu-ly-nuoc-thai-tai-cho


    Tổ chức xúc tiến Thương mại - môi trường Nhật Bản cũng đưa ra 12 ưu điểm của công nghệ nghệ Nano-Bioreactor.

    Thứ nhất, chi phí đầu tư ban đầu thấp, chủ yếu gồm hai hạng mục hệ thống máy Nano và vật liệu sinh học Bioreactor, hệ thống bể ngầm bằng vật liệu FRP tiện lắp đặt dưới lòng đất. Không yêu cầu nhân lực quản lý vận hành lớn. Chi phí tiền điện vận hành nhà máy nhỏ do sử dụng hệ thống các bơm có công suất chỉ vài kW (nhỏ hơn công suất hàng chục, hàng trăm kW đang dùng trong các nhà máy XLNT tập trung).

    Thứ hai, xử lý triệt để tận gốc mùi hôi thối (ở cấp độ phân tử), công nghệ Nano-Bioreactor đảm bảo dòng sông ô nhiễm khi được xử lý sẽ không còn mùi hôi, thối bốc lên chỉ trong thời gian rất ngắn từ 1~3 ngày.

    Thứ ba là phân hủy tận gốc bùn hữu cơ tồn đọng lâu năm dưới lòng sông chết, ao hồ ô nhiễm thành CO2, H2O mà không cần áp dụng các biện pháp nạo vét cơ học (trừ đá, sỏi,...).

    Thứ tư là xử lý tận gốc tại chỗ trong ngày(24h) nước thải từ nguồn rồi mới xả vào sông nước đạt QCVN bằng bể ngầm trong lòng đất.

    Thứ năm là xử lý tận gốc tại chỗ tạo ra nước đạt QCVN, dùng làm nguồn cấp bổ cập tại chỗ cho các “dòng sông chết, ao hồ ô nhiễm”.

    Thứ sáu là bảo tồn hệ sinh thái, cá, thủy sinh phát triển tốt. Do công nghệ Nano-Bioreactor có 2 nguồn tạo ra oxy hòa tan trong nước nên mặc dù mưa lớn, thay đổi thời tiết đột ngột nhưng cá sẽ không bị chết vì thiếu oxy như một số công nghệ khác. Đặc biệt, hiệu quả ổn định trong hàng chục năm, không bị tái ô nhiễm.

vat-lieu-bioreactor-dat-chim

    Thứ bảy là số lượng vi khuẩn, vi sinh vật có hại giảm, vi sinh vật có lợi tăng. Đặc biệt xử lý được giảm triệt để các khuẩn E.coli, coliform là nguyên nhân gây các bệnh về đường ruột cho người dân sống gần các dòng sông ô nhiễm, mang lại một dòng sông an toàn.

    Thứ tám là hệ thống xử lý đảm bảo không gây ô nhiễm thứ cấp (không dồn chất ô nhiễm xuống hạ lưu, không nạo vét bùn mang đi nơi khác gây ô nhiễm tại khu vực đổ thải).

    Thứ chín là không cần tốn chi phí xây dựng hàng chục, hàng trăm km cống bao thu gom, chi phí giải phóng mặt bằng...

    Thứ mười là thời gian thi công ngắn, hiệu quả đạt nhanh (tùy quy mô dự án).

    Thứ mười một là công suất xử lý thiết kế ban đầu đáp ứng với lưu lượng thải có thể thay đổi trong tương lai lên hàng vài chục lần do quá trình đô thị hóa dẫn đến dân số tăng lên. Đặc biệt, với hình thức xử lý là “Nhà máy XLNT đặt trong lòng sông, hồ...” nên dễ tăng công suất xử lý bằng cách tăng thêm số máy mà không phải giải phóng mặt bằng khi lượng nước thải xả vào khu xử lý tăng.

    Thứ mười hai là góp phần làm giảm ô nhiễm không khí hiện đang ở mức cao, do cũng có một phần ảnh hưởng bởi các chất ô nhiễm từ sông Tô Lịch bay lên.


    Trước thực trạng chưa có nhà máy xử lý nước, chưa có biện pháp xử lý được triệt để vấn đề mùi hôi thối bốc lên từ dòng sông ô nhiễm đang hàng ngày ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, giải pháp công nghệ Nano-Bioreactor của Nhật Bản nếu được áp dụng sẽ xử lý được triệt để tận gốc mùi hôi thối chỉ trong thời gian 1-3 ngày và có thể xử lý được ô nhiễm.

    
    Nguồn: vietnamnet.vn

Hải Dương: 700.000 m3 nước thải hàng ngày đổ vào hệ thống An Kim Hải

đăng 18:57, 26 thg 11, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 18:57, 26 thg 11, 2019 ]

    Tổng lượng nước xả thải vào hệ thống khoảng 700.000 m3/ngày đêm. Cụ thể, hệ thống hiện nay đang bị ảnh hưởng bởi tổng số 453 nguồn thải. Trong đó, nguồn gây ô nhiễm chủ yếu tại các khu dân cư, cơ sở sản xuất, làng nghề… thuộc thành phố Hải Phòng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.


    Tổng lượng nước xả thải chảy vào ra các kênh: Tân Hưng Hồng, Kênh An Kim Hải, Bắc Nam Hùng, kênh tiêu Tân Tiến và kênh 3 xã và một số các kênh mương khác. Ngoài ra còn một lượng nước thải từ các cụm công nghiệp, khu công nghiệp lớn chưa được cấp phép xả vào hệ thống.

    Có 130 nguồn xả thải trực tiếp vào sông Rế và 302 nguồn thải đang xả vào các kênh cấp I, trong đó nhiều nhất là kênh bắc Nam Hùng có 20 nguồn, kênh Tiêu Tân Tiến 10 nguồn…

    Với gần 80% lượng nước thải chưa được xử lý nước thải sinh hoạt triệt để mỗi ngày thải trực tiếp ra cống thoát nước chung, sau đó chảy vào môi trường nước mặt (thông thường là các ao hồ lớn và kênh rạch thoát nước), tạo ra sức ép lớn đối với môi trường nước trong hệ thống công trình thủy lợi.

    Trong năm gần đây đã có nhiều cơ sở sản xuất bị phạt hành chính vi phạm xả thải đặc biệt có đơn vị bị phạt hàng trăm triệu đồng và yêu cầu tạm dừng sản xuất. Tuy nhiên trong hệ thống vẫn có hiện tượng xả trộm nước thải gây ra hiện tượng phú dưỡng như trên kênh Bắc Nam Hùng, kênh Hoàng Lâu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước trong hệ thống.

    Nguồn: nongnghiep.vn

Thái Nguyên: Dự án nước thải nghìn tỷ đồng 20 năm mới xong, vừa vận hành lập tức ‘đắp chiếu’

đăng 00:10, 23 thg 11, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 00:13, 23 thg 11, 2019 ]

    Dự án thoát nước và xử lý nước thải TP Thái Nguyên vừa hoạt động sau 20 năm triển khai thì hạng mục chính là Nhà máy xử lý nước thải Gia Sàng gặp sự cố. Dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên được thực hiện theo Nghị định thư Việt Pháp năm 1998 và tỉnh Thái Nguyên phê duyệt thực hiện từ năm 2000, với tổng mức đầu tư là 231,62 tỷ đồng.

    Sau thời gian yên vắng, đến năm 2007, dự án tiếp tục được phê duyệt điều chỉnh bổ sung với tổng mức đầu tư hơn gấp đôi: 579,90 tỷ đồng. Và rồi 5 năm sau, năm 2012, UBND tỉnh Thái Nguyên lại phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư tiếp tục tăng gấp đôi, lên đến gần 1.000 tỷ đồng (950,489 tỷ đồng).

bao-ca0-su-co-xu-ly-nuoc-thai-Thai-Nguyen


    Trong đó, vốn vay ODA của Cộng hòa Pháp trên 412 tỷ đồng, vốn đối ứng từ nguồn ngân sách Trung ương và địa phương là trên 530 tỷ đồng, được giao cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thoát nước và Phát triển hạ tầng Thái Nguyên làm chủ đầu tư. Dự án được thực hiện trong phạm vi khoảng 1.200 ha, trong địa phận 9 phường của khu trung tâm phía Bắc thành phố Thái Nguyên, với mục tiêu cải thiện vệ sinh môi trường, chống ngập úng cục bộ và thu gom, xử lý nước thải phục vụ cho khoảng 100.000 dân thuộc vùng dự án.

    Mặc dù được xác định là dự án trọng điểm của tỉnh, song đây cũng là một trong những dự án gây nhiều bức xúc trong dư luận địa phương, bởi việc chậm tiến độ kéo dài, khiến nhiều người lo ngại về việc sự lạc hậu của thiết bị, công nghệ.

    Sau nhiều lần trễ hẹn, từ đầu năm 2018, dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên chính thức hoạt động. Thế nhưng, từ cuối tháng 8/2019, Nhà máy xử lý nước thải Gia Sàng gặp sự cố do 3 tủ điện bị cháy khiến toàn bộ hệ thống “tê liệt” và chưa biết đến bao giờ mới hoạt động trở lại.

    Nhà máy xử lý nước thải Gia Sàng là một trong những hạng mục chính của Dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên, có công suất thiết kế 6.000m3/ngày đêm, tổng giá trị khoảng 280 tỷ, chỉ tính riêng tiền thiết bị là 6,975 triệu Euro (tương đương 203,7 tỷ đồng).

    Do đang trong quá trình chuyển giao kỹ thuật, nên việc xử lý, khắc phục sự cố của nhà máy phải có kết luận điều tra chính thức của cơ quan chức năng về phòng cháy chữa cháy tỉnh Thái Nguyên và sự thống nhất của các bên liên quan, gồm: Cơ quan Kinh tế Pháp, Ban Quản lý dự án, Tư vấn Berim, nhà thầu cung cấp thiết bị Suez, nhà thầu lắp đặt phía Việt Nam...

nha-may-xu-ly-nuoc-thai-Gia-Sang

    Trong buổi làm việc với Báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 15/11, đại diện Ban lãnh đạo Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thoát nước và Phát triển hạ tầng Thái Nguyên cho biết: Giá trị 3 tủ điện bị cháy được xác định vào khoảng 7 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến thời điểm này, vẫn chưa xác định được trách nhiệm thuộc về ai, nguồn kinh phí sửa chữa sẽ do bên nào chịu trách nhiệm? Phía công ty cũng chưa biết đến khi nào nhà máy này mới vận hành trở lại.

    Việc chậm khắc phục sự cố của Nhà máy xử lý nước thải Gia Sàng không những làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường cho sông Cầu, không đảm bảo việc làm cho cán bộ, công nhân vận hành hệ thống thoát nước và xử lý nước thải… mà còn khiến dư luận đặt nghi vấn về chất lượng, sự lạc hậu của thiết bị, chỉ vì Nghị định thư Việt Pháp đã kỳ từ hơn 20 năm trước.

    Không những thế, với sự cố cháy nổ khiến hệ thống hỗ trợ thoát nước không thể hoạt động, đã “góp phần” khiến toàn thành phố Thái Nguyên phải chịu cảnh ngập lịch sử sau trận mưa kéo dài đêm 9 rạng sáng ngày 10/9 xảy ra sau đó ít ngày.

    Trong lúc dự án thoát nước phía Bắc thành phố, với đầu tư gần 1.000 tỷ, vẫn đang “chết yểu” thì dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu trung tâm phía Nam thành phố Thái Nguyên được chủ đầu tư là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thoát nước và phát triển hạ tầng đô thị Thái Nguyên và nhà thầu Sodraep (Vương quốc Bỉ) ký kết từ tháng 12/2015.

    Dự án có tổng mức đầu tư 439 tỷ đồng, tương đương 18,8 triệu euro. Trong đó, vốn vay ODA của Chính phủ Vương quốc Bỉ là 252 tỷ đồng, tương đương 10,8 triệu euro, vốn đối ứng là 186 tỷ đồng, tương đương 8 triệu euro. Đến nay dự án vẫn chưa thi công hạng mục nào, ngoài lễ ký kết?

    Dư luận đang hoài nghi, liệu dự án mới này có bị kéo dài thời gian và tiếp tục một hành trình “đội vốn”?



    Nguồn: Web: vtc.vn/du-an-nuoc-thai-nghin-ty-dong-20-nam-moi-xong-vua-van-hanh-lap-tuc-dap-chieu-d511592.html

Hà Nội: Chỉ 22% nước thải được xử lý qua nhà máy

đăng 00:13, 18 thg 11, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 00:14, 18 thg 11, 2019 ]

    Hiện trạng xử lý nước thải ở thủ đô, chỉ 22% nước thải được xử lý qua nhà máy, còn lại 78% xả thẳng ra sông mương, theo Công ty thoát nước Hà Nội.

buc-tranh-thu-gom-nuoc-thai

    Nguồn: vnexpress.net

Hà Nội: Ngày càng ô nhiễm 'vì không gom được nước thải'

đăng 01:09, 14 thg 11, 2019 bởi Môi trường TNT   [ đã cập nhật 01:10, 14 thg 11, 2019 ]

    Hệ thống nước thải hòa với nước mưa khiến các nhà máy xử lý nước thải quá tải và sông, hồ ô nhiễm ngày càng nặng. PGS.TS Trần Đức Hạ - Viện trưởng Viện nghiên cứu cấp thoát nước và môi trường, trao đổi với VnExpress về thực trạng nước thải sinh hoạt ở Hà Nội.

    -  Công ty thoát nước Hà Nội thống kê 78% nước thải trên địa bàn xả thẳng ra sông, hồ, kênh mương mà không qua xử lý. Ông đánh giá thế nào về thực trạng này?

    - Chưa gom được nước thải là vấn đề lớn nhất hiện nay của môi trường Hà Nội. Nước thải sinh hoạt và công nghiệp xả thẳng ra môi trường là nguyên nhân chính khiến các dòng sông trở nên đen đặc, bốc mùi hôi thối. Muốn xử lý triệt để nước thải thì trước hết phải thu gom. Nhưng thành phố chưa có dự án xây dựng hệ thống thoát nước riêng nào. Với sông Tô Lịch, các dự án từ trước đến nay chỉ là nạo vét bùn và kè sông.

    Để giải quyết vấn đề, thành phố phải đầu tư hệ thống thu gom, đấu nối từng gia đình, từng khu dân cư, công trình dịch vụ... dẫn về khu xử lý tập trung. Đầu tư xây dựng hệ thống như vậy yêu cầu kinh phí lớn, và với đô thị mật độ xây dựng lớn như Hà Nội sẽ có nhiều vấn đề phức tạp. Muốn cải tạo, lắp đặt tuyến cống phải đào đường; kéo theo hàng loạt vấn đề khác về giải tỏa mặt bằng, điều tiết giao thông. Làm đường đã khó, làm cống còn khó hơn nhiều. Khó nhất là đặt cống, đấu nối và thu gom.

    Nếu không thu gom được, lượng nước thải đổ vào sông, hồ ngày càng nhiều. Hà Nội càng xây dựng, càng mở rộng thì sông hồ ngày càng ô nhiễm, đường phố ngày càng ngập.

Tran-Duc-Ha-Pho-Vien-truong-Vien-Cap-thoat-nuoc


    - Vậy sao trước đây Hà Nội không đầu tư đồng bộ hệ thống thoát nước, tách riêng nước thải và nước mưa để tránh những phức tạp hiện nay?

    - Đây là vấn đề do lịch sử để lại. Từ thời Pháp thuộc, khi xây dựng đô thị Hà Nội, ban đầu người Pháp làm cống thoát nước mưa trước. Do không tách được nước thải riêng nên cuối cùng lại đổ chung vào hệ thống cống ấy. Bản chất của hệ thống thoát nước chung ở Việt Nam là nước thải đổ vào nước mưa. Không riêng Hà Nội, mà đa số các thành phố khác đều dùng hệ thống như thế. Chỉ một số khu đô thị mới, xây dựng sau này thì nước mưa và nước thải mới được tách riêng ra, nhưng lại không có hệ thống đấu nối dẫn về nhà máy xử lý.

    Việc trộn lẫn như trên khiến khối lượng nước thải tập trung về các nhà máy xử lý lớn hơn, chế độ hoạt động các công trình xử lý không ổn định, kinh phí xử lý tốn kém hơn. Ngoài ra, một phần nước thải không được xử lý, mặc dù đã được hòa trộn với nước mưa khi mưa to, nhưng khi tràn vào sông, hồ vẫn tiếp tục gây ô nhiễm nguồn nước.

    Cho đến nay, Hà Nội mới chỉ có dự án Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (Thanh Trì) đang xây dựng là tính đến việc thi công một đường ống gom nước thải dài 52 km, đường kính 1,8 - 2 m, nằm sâu dưới đất 8 - 15 m, dẫn trực tiếp về nhà máy xử lý. Dự án này được đầu tư 16.200 tỷ đồng, tính thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt cho 7 quận, huyện gồm: Ba Đình, Nam Từ Liêm, Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Hà Đông, Thanh Trì và các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Nhuệ. 

    - Ông nhận định thế nào về năng lực xử lý nước thải của Hà Nội hiện nay?

    - Thành phố hiện có 6 nhà máy xử lý nước thải nội đô. Chỉ có các nhà máy: Bảy Mẫu, Kim Liên, Trúc Bạch là có thể hoạt động hết công suất, bởi thu gom được phần lớn nước thải trong lưu vực để xử lý.

    Các nhà máy như Hồ Tây chỉ xử lý được khoảng 8.000 m3/ngày đêm, trong khi công suất thiết kế là 15.000 m3/ngày đêm; nhà máy Bắc Thăng Long - Vân Trì công suất 42.000 m3/ngày đêm, chỉ xử lý được khoảng 7.000 m3 (15% công suất thiết kế). Các nhà máy này không hoạt động hết công suất, vì hệ thống cống bao chưa được hoàn thiện, chưa đấu nối được nước thải vào hệ thống thu gom tập trung. 

    Ngoài ra, nhà máy xử lý Yên Sở công suất 200.000 m3/ngày đêm, nhưng phải lấy trực tiếp nước thải từ các sông thoát nước Kim Ngưu và Sét để xử lý. Việc lấy trực tiếp nước thải từ các sông này, theo tôi là chưa đúng về cách tiếp cận để giải quyết vấn đề. Thông thường nước thải phải thu gom về nhà máy để xử lý đạt quy chuẩn môi trường rồi mới xả ra sông hồ; không ai xả nước thải vào sông rồi xử lý trong đó cả. 

    - Để giải quyết vấn đề nước thải thì Hà Nội nên bắt đầu từ đâu?

    - Từ năm 1998 đến nay Hà Nội đã triển khai nhiều dự án thoát nước và vệ sinh môi trường, đạt được một số kết quả nhất định như cải thiện được tình trạng úng ngập lưu vực sông Tô Lịch, diện tích 77,5 km2; giải quyết được vấn đề ô nhiễm cho nhiều hồ đô thị... Tuy nhiên, tôi cho rằng năng lực quản lý các dự án thoát nước và hạ tầng của Hà Nội còn hạn chế, cần học hỏi thêm kinh nghiệm của TP HCM, Bình Dương... Đơn cử nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (Thanh Trì) đã khởi công được ba năm, dự kiến hoàn thành năm 2020 nhưng đến nay mới được 10% công việc. Thành phố cần cải thiện năng lực quản lý để những công trình liên quan đến vấn đề môi trường như trên không bị chậm trễ nữa.
o-nhiem-song-To-Lich


    Đối với vấn đề ô nhiễm nước thải, các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã được quy hoạch. Tuy nhiên, trong đô thị và vùng ven đô vẫn có các điểm xả thải phân tán, không đấu nối tập trung được thì phải lắp đặt hệ thống xử lý tại chỗ, hoặc xây các trạm xử lý nước thải quy mô vừa và nhỏ. Nước sạch sau xử lý đảm bảo quy chuẩn môi trường thì bổ cập vào sông, hồ nội thành.

    Thực tế, tốc độ xây dựng hạ tầng không bao giờ theo kịp tốc độ đô thị hóa. Các nước phát triển cũng vậy thôi. Nhưng họ có tiềm lực và có một chiến lược rõ ràng để giải quyết. Còn Hà Nội thì chưa làm được, nên các khu đô thị mới xây cứ mưa là ngập lụt, nước thải, nước mưa không biết thoát đi đâu. Cách tiếp cận phải là tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng trước khi xây dựng công trình và nhà ở.

    - Vậy Hà Nội cần bao nhiêu năm nữa để khắc phục tình trạng ô nhiễm do nước thải hiện nay?

    - Hà Nội đã có quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 (quy hoạch 725). Mục tiêu chính quyền thủ đô đề ra là đến 2030 giải quyết được phần lớn ô nhiễm môi trường do nước thải và ngập lụt đô thị; đến năm 2050, đạt thành phố xanh, sạch, đẹp. Để đạt mục tiêu này thì tình trạng ô nhiễm nước sông, hồ và úng ngập như hiện nay phải được khắc phục triệt để. Tuy nhiên, Hà Nội có đủ nguồn lực để thực hiện các mục tiêu trong quy hoạch thoát nước này hay không là câu hỏi rất khó trả lời.

    Nguồn: vnexpress.net

1-10 of 188