Tài liệu‎ > ‎

Ô nhiễm nước thải thuộc da

Qua nghiên cứu của một số tác giả đưa ra ở bảng 2, nhận thấy nước thải chuẩn bị thuộc đặc trưng bởi các thông số pH, TSS (2300÷40000mg/L), TDS (22000÷29000mg/L), COD (800÷28000mg/L), Norg (200÷5000mg/L), amoni (20÷3800mg/L), sunfua, clorua (2000÷3000mg/L) [1, 6, 8, 9]. Tuy nhiên, sự chênh lệch về giá trị của các thông số đặc trưng giữa các công đoạn trong giai đoạn chuẩn bị thuộc là rất lớn. Nước thải của công đoạn axit hóa có tính axit (pH = 3÷4) còn các công đoạn khác có tính kiềm (pH = 7÷13) [1, 9, 10]. COD trong nước thải hồi tươi (3000÷31000mg/L) và tẩy lông-ngâm vôi (1700÷58000mg/L) là lớn nhất [1, 7, 9, 10]. TSS sinh ra chủ yếu ở công đoạn nạo bạc nhạc, xén diềm. Nitơ hữu cơ tạo ra nhiều ở công đoạn tẩy lông - ngâm vôi và tẩy vôi - làm mềm còn amoni lại sinh ra chủ yếu ở công đoạn hồi tươi, tẩy vôi và axit hóa. Khoảng 15 ÷ 40% lượng muối sử dụng để bảo quản da động vật và chúng được loại bỏ trong quá trình ngâm [2]. Ngoài ra, trong quá trình hồi tươi và tẩy lông ngâm vôi, lượng lớn sunfua (700÷4000mg/L) được thải bỏ [7,9]. Đặc biệt, nước thải giai đoạn chuẩn bị thuộc cón chứa một lượng đáng kể chất diệt khuẩn và diệt nấm. Những chất này cũng làm tăng đáng kể các thành phần hữu cơ khó phân huỷ sinh học và có độc tính cao.


Nước thải từ công đoạn thuộc đặc trưng bởi tính axit (pH = 3÷4), TSS (~7000mg/L), TDS (~67000mg/L), COD (400÷40000mg/L), côm (300÷4100mg/L), amoni [5, 11, 14]. Crôm là thông số đặc trưng nhất trong giai đoạn này. Nồng độ Crom trong nước thải thuộc có thể lên tới 4950 mg/l (Cooman et al., 2003). Hàm lượng COD tuy vẫn còn cao nhưng đã giảm nhiều so với giai đoạn chuẩn bị thuộc do đã bị đốt cháy một phần bởi axit. Nước thải thuộc có hàm lượng nitơ rất cao và chủ yếu là dạng amoni (300÷670mg/L)[13, 14]. Ngoài ra, một lượng lớn bạc nhạc và vụn da và được thải bỏ vào dòng nước nên TSS của giai đoạn này vẫn rất cao (~70000mg/L) [1, 7].

Nước thải từ giai đoạn thuộc lại đặc trưng bởi pH, COD, axit, kiềm, syntans, chất béo, AOX, màu. Nước thải giai đoạn thuộc lại không đặc trưng bởi BOD5 nhưng COD lại rất cao [2]. Thành phần chất hữu cơ trong giai đoạn này phần lớn khó bị phân hủy sinh học, sinh ra chủ yếu từ thuốc nhuộm. Nước thải từ công đoạn thuộc lại có tính axit nhưng công đoạn ăn dầu và nhuộm lại có tính kiềm. Đặc biệt, nước thải giai đoạn này còn bị ô nhiễm chất béo từ công đoạn ăn dầu, syntans từ thuộc lại…

Nước thải từ công đoạn hoàn thiện được đặc trưng bởi kim loại nặng, màu, chất phủ bề mặt. Kim loại nặng trong nước thải chủ yếu là niken, cadimi, chì được thải bỏ từ các pigmen kim loại sử dụng trong quá trình trau chuốt da.

Tóm lại, nước thải từ các công đoạn thuộc da có những đặc trưng riêng nhưng chúng đều có giá trị COD cao. Trong đó, 60% COD tồn tại ở dạng lơ lửng, 25% COD ở dạng hòa tan và 15% là phần dạng keo và tỷ lệ COD trơ chiếm tới 52% tổng COD (Karahan, 2008). Ngoài ra, nước thải thuộc chứa rất nhiều chất thải có độc tính sinh học (crom, kim loại nặng, sunfua,…) và tỷ lệ BOD5/COD < 0,2 [2] nên khả năng phân hủy sinh học các chất ô nhiễm trong nước thải này là rất thấp. Tuy nhiên, quá trình phân hủy sinh học là phương pháp xử lý bền vững và thân thiện với môi trường nên vẫn được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi. Để nâng cao hiệu quả xử lý của quá trình xử lý sinh học cần loại bỏ các chất độc sinh học bằng phương pháp hóa lý trước khi xử lý sinh học.

Bảng 3 đưa ra thành phần thành phần đặc trưng của nước thải thuộc da tóm tắt từ một số nghiên cứu. Nồng độ Cr3+ đầu vào trung bình dao động trong phạm vi rộng (30-260 mg/l) tùy thuộc quá trình thuộc được áp dụng. Độ mặn cao được phản ánh thông quá nồng độ TDS (37,000 mg/l). Nước thải thuộc thông thường giàu Nitơ, đặc biệt là Nitơ hữu cơ nhưng rất ít phot pho. Mặc dù COD là thông số đặc trung cho đặc tính nước thải thuộc, tổng cacbon hữu cơ - TOC (Total Organic Carbon) được cho là đáng tin cậy hơn COD vì nồng độ cao của clorua và sulphua của nước thải đầu ra có thể ảnh hưởng đáng kể tới việc phân tích COD [2].