Tài liệu‎ > ‎

HIỆN TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI THUỘC DA

I-Hiện trạng nước thải thuộc da

Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhân viên. Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên. Cơ sở để nhận biết và phân loại như sau:

- Nước thải được sản sinh từ nước không được dùng trực tiếp trong các công đoạn sản xuất, nhưng tham gia các quá trình tiếp xúc với các khí. chất lỏng hoặc chất rắn trong quá trình sản xuất. Loại này có thể phát sinh liên tục hoặc không liên tục, nhưng nói chung nếu sản xuất ổn định thì có thể dễ dàng xác định được các đặc trưng của chúng.

- Nước thải được sản sinh ngay trong bản thân quá trình sản xuất. Vì là một thành phần của vật chất tham gia quá trình sản xuất, do đó chúng thường là nước thải có chứa nguyên liệu, hoá chất hay phụ gia của quá trình và chính vì vậy những thành phần nguyên liệu hoá chất này thường có nồng độ cao và trong nhiều trường hợp có thể được thu hồi lại. Ví dụ như nước thải này gồm có nước thải từ quá trình mạ điện, nước thải từ việc rửa hay vệ sinh các thiết bị phản ứng, nước chứa amonia hay phenol từ quá trình dập lửa của công nghiệp than cốc, nước ngưng từ quá trình sản xuất giấy. Do đặc trưng về nguồn gốc phát sinh lên loại nên loại nước thải này nhìn chung có nồng độ chất gây ô nhiễm lớn, có thể mang tính nguy hại ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào bản thân quá trình công nghệ và phương thức thải bỏ. Nước thải loại này cũng có thể có nguồn gốc từ các sự cố rò rỉ sản phẩm hoặc nguyên liệu trong quá trình sản xuất, lưu chứa hay bảo quản sản phẩm, nguyên liệu.

Thông thường các dòng nước thải sinh ra từ các công đoạn khác nhau của toàn bộ quá trình sản xuất sau khi được sử lý ở mức độ nào đó hoặc không được xử lý, được gộp lại thành dòng thải cuối cùng để thải vào môi trường (hệ thống cống, lưu vực tự nhiên như sông, ao hồ...). Có một điều cần nhấn mạnh: thực tiễn phổ biến ở các đơn vị sản xuất, do nhiều nguyên nhân, việc phân lập các dòng thải (chất thải lỏng, dòng thải có nồng độ chất ô nhiễm cao với các dòng thải có tải lượng gây ô nhiễm thấp nhưng lại phát sinh với lượng lớn như nước làm mát, nước thải sinh hoạt, nước mưa chảy tràn...) cũng như việc tuần hoàn sử dụng lại các dòng nước thải ở từng khâu của dây chuyền sản xuất, thường ít được thực hiện. Về mặt kinh tế, nếu thực hiện tốt 2 khâu này sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí sản xuất, chi phí xử lý nước thải.

Căn cứ trên nghiên cứu về quy mô, công nghệ, đặc tính các nguồn nước thải của các cơ sở thuộc da ở Việt Nam.

1. Quy trình 1 thu gom và xử lý nước thải thuộc da



1: Phương pháp phân lập và thu gom dòng thải trong xử lý nước thải thuộc da

Nước thải thuộc da được phân lập thành 3 dòng thải và được thu gom về các bể chứa khác nhau trước khi được xử lý. Nước thải từ công đoạn tẩy lông ngâm vôi được phân lập và bơm dẫn về bể chứa vôi sunfua, rồi qua bể oxi hóa sunfua để loại bỏ sunfua sau đó được chảy vào bể điều hòa. Nước thải từ công đoạn thuộc có chứa crom cũng được phân lập và bơm dẫn về bể chứa crom rồi được đưa qua thùng kết tủa crom, nước thải sau khi xử lý loại crom được đưa về bể điều hòa. Các nước thải khác gồm các công đoạn rửa da và vệ sinh thiết bị… được đưa trực tiếp về bề điều hòa. Từ đây, nước thải được đưa đến các công đoạn xử lý hóa lý và sinh học rồi mới xả ra môi trường.

2 Quy trình 2 thu gom và xử lý nước thải thuộc da

 

xu-ly-nuoc-thai

Mô tả công nghệ xử lý nước thải thuộc da

Nước thải được chia thành hai đường chứa crôm và nước thải khác. Dòng nước thải crôm đưa qua song chắn rác thô để loại bỏ các mỡ, bạc nhạc, diềm da, lông. Sau khi loại bỏ một phần nước vào hố thu ( hoặc hố ga) ở đây nước đươc cho chảy chậm để loại bỏ váng mỡ. Rồi được chuyển qua bể tiếp nhận, ở bể tiếp nhận nước thải được sục khí để giảm mùi phân hủy kỵ khí ( ở quá trình này có thể cho hóa chất vào để chuyển đổi Crôm III thành Crôm VI và loại bỏ Crôm ra khỏi nước thải).

 Dòng nước thải khác cũng được xử lý sơ bộ như dòng nước thải Crôm. Nước thải 2 dòng này sau khi xử lý sơ bộ tự chảy qua bể điều hòa. Bể điều hòa được lắp đặt hệ thống sục khí toàn bộ diện tích bể để tránh lắng cặn và xáo trộn điều các dòng nước thải với nhau. Trong quá trình thổi khí một phần các chất hữu cơ và vô cơ ở thể khí hòa tan sẽ thoát ra ngoài theo dòng khí. Quá trình thổi khí này sẽ làm tăng hàm lượng oxi trong nước thải vì vậy sẽ cải thiện đáng kể COD và BOD của nước thải. Bể điều hoà có nhiệm vụ ổn định nồng độ, lưu lượng nước thải để tăng hiệu quả xử lý của các công trình đơn vị phía sau, tránh cho hệ thống xử lý bị quá tải.

Nước được bơm lên hệ thống bể phản ứng khuấy trộn với hóa chất tạo bông, keo tụ nhờ các bơm định lượng hóa chất. Tại đây, các hoá chất điều chỉnh pH, các hoá chất keo tụ và trợ keo tụ được đưa vào nhằm loại bỏ hàm lượng cặn lơ lững có trong nước thải bằng cánh kết tủa cặn nhỏ lại thành những bông cặn có kích thước và trọng lượng riêng lớn hơn trước khi qua bể lắng.

Bể lắng tạm có tác dụng làm trong nước và loại bỏ sơ bộ các bông cặn được tạo ra trong quá trình kết tủa ở trên. Nước trong cho tự chảy qua hệ thống bể lắng.

Hệ thống bể lắng ( cấp 1) có tác dụng loại bỏ hoàn toàn bông cặn, bùn được tạo ra qua quá trình keo tụ để làm trong nước. Bùn  sinh ra ở bể tiếp nhận, bể điều hòa, quá trình keo tụ và các bể lắng được thu gom qua bơm hút bùn ở đáy bể đưa qua bể chứa bùn sau đó bùn sẽ được đưa đi xử lý. Nước dư ở bể chứa bùn được bơm tuần hoàn lại lên hệ thống phản ứng để xử lý lại cho đạt tiêu chuẩn.

Nước từ hệ thống bể lắng chảy qua bể xử lý vi sinh vật, được sục khí cung cấp oxi thúc đẩy vi sinh vật hoạt động để loại bỏ, phân hủy hoàn toàn các hợp chất hữu cơ và làm giảm thiểu COD và BOD một cách đáng kể.

Nước thải tiếp tục chảy chậm qua bể lắng ( cấp 2) ở đây được khử trùng và lọc để khử màu mùi, lọai bỏ hoàn toàn các chất cặn còn lại trong nước để nước đạt tiêu chuẩn xả thải: QCVN 40:2011/BTNMT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.

3 Quy trình 3 xử lý nước thải thuộc da

 

nuoc-thai-thuoc-da

Nước thải thuộc da được phân thành hai dòng xử lý sơ bộ trước khi gom chung để xử lý:

a. Đối với dòng nước thải chứa Crom (1):

+ Nước thải (NT) theo hệ thống thoát nước riêng đi qua song chắn rác (SCR) và lưới chắn rác (LCR) đến bể tiếp nhận. SCR là LCR có tác dụng loại bỏ cặn bẩn, các tạp chất thô và mịn.

+ NT tiếp tục được bơm đến bể trộn có châm định lượng FeSO4 và nâng pH tạo môi trường kiềm nhằm tạo ra phản ứng khử Cr6+ thành Cr3+.

+ NT được cho qua bể lắng để loại bỏ kết tủa Cr3+ dưới dạng Cr(OH)3. Sau đó, nước thải được đưa đến bể điều hòa để tiếp tục công đoạn xử lý chung. 

b. Đối với dòng nước thải ngâm vôi và các dòng thải khác (2):

+ NT ngâm vôi có hàm lượng sunfit không cao nên được gom chung với các dòng thải từ công đoạn khác để xử lý.

+ NT được cho qua SCR và LCR đế bể tiếp nhận. SCR và LCR dùng để loại bỏ cặn bẩn, thịt mỡ, các tạp chất mịn.

+ NT tiếp tục được bơm lên bể điều hòa để thực hiện công đoạn xử lý chung.

c. Giai đoạn xử lý chung hai dòng nước thải (1) và (2):

- Tại bể điều hòa nước thải được sục khí nhằm oxy hóa Sunfit thành sunfat, làm ổn định NT về lưu lượng và nồng độ.

- Tiếp theo NT được cho qua bể trộn có châm định lượng phèn và điều chỉnh về pH thích hợp cho quá trình keo tụ tạo bông.

- NT tiếp tục chảy qua bể keo tụ tạo bông kết hợp với bể lắng 1 để tạo phản ứng keo tụ loại bỏ độ màu, kết tủa cặn lơ lửng và các hợp chất lắng được.

 - NT được cho qua bể lọc sinh học hiếu khí nhằm tiếp tục xử lý BOD5, COD, mùi hôi trong nước thải,…

- Sau khi xử lý ở bể sinh học hiếu khí NT tiếp tục chảy sang bể lắng đợt 2 để loại bỏ bùn hoạt tính.

- Sau cùng nước thải được cho qua bể khử trùng được châm định lượng Clo để diệt khuẩn nước xử lý. Sau khi ra khỏi bể khử trùng nước thải sẽ đạt tiêu chuẩn 5945 – 2005 loại A,B rồi thải ra nguồn tiếp nhận.

- Lượng bùn hoạt tính từ bể lắng đợt 2 được tuần hoàn về bể sinh học hiếu khí để duy trì mật độ của vi sinh vật. Bùn dư được dẫn về bể nén bùn. 

 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Để tăng hiệu quả của quá trình xử lý nước thải hoặc tiết kiệm các nguyên liệu quý trong quá trình xử lý nước thải chúng ta cần phải phân lập và thu gom dòng thải tại nguồn.  Hầu hết các cơ sở thuộc da vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có thì chưa tiến hành phân lập và thu gom tại nguồn cho nên hiệu quả xử lý của hệ thống không đạt tiêu chuẩn xả thải. Vì vậy, việc thu gom và phân lập nguồn nước thải tại nguồn một cách hợp lý và khoa học sẽ tạo điều kiện cho các hệ thống xử lý nước thải đạt hiệu quả cao.

Do đặc điểm và tính chất đặc thù của các dòng thải, nước thải thuộc da nên phân lập thành 3 nguồn thải: nguồn nước thải vôi sunfua từ công đoạn tẩy lông ngâm vôi, nước thải crom từ công đoạn thuộc và nước thải khác từ các quá trình rửa da... Các nguồn nước thải này nên được phân lập và thu gom riêng để có định hướng xử lý hiệu quả hơn.

Trong báo cáo này chúng tôi đã nghiên cứu đặc tính nguồn thải, đánh giá hiện trạng thu gom và phân lập nguồn nước thải tại các cơ sở thuộc da từ đó đã đưa ra được phương án phân lập- thu gom khoa học cho các cơ sở thuộc da này.

 

 

Comments